Video giới thiệu




















Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 23.972.768

Khách Online : 46

Kinh nghiệm quốc tế

Cơ quan thực thi một số nước trên thế giới

12:22 07/07/2021 | Lượt xem : 486

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 486

Theo xu hướng tại một số nước trên thế giới, để tách bạch việc ra chính sách và việc thực thi chính sách, một số cơ quan (bộ phận) thực thi chính sách được khuyến nghị ra đời cho phép phân phối các chức năng thực hiện chính sách công của Chính phủ được thực hiện tách biệt nhưng trong khuôn khổ luật pháp. Một bộ phận tập trung vào việc ban hành và làm chính sách, sau đó họ chuyển giao chính sách sang cho bộ phận thực thi chính sách bao gồm: 1) cung cấp dịch vụ cơ bản cho chính sách của cơ quan đó; 2) thực hiện các chức năng theo luật định hoặc quy định; 3) cung cấp dịch vụ cho các bộ phận khác của chính quyền trung ương bằng các kỹ năng chuyên môn; 4) cung cấp các chức năng chuyên biệt riêng biệt cho vai trò cốt lõi của bộ phận thực thi chính sách. Do đó, việc tập trung vào việc cung cấp các chức năng điều hành thực sự có hiệu quả, điều này lý giải cho sự cần thiết ra đời một cơ quan thực thi chuyên biệt.

    Tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá việc sắp xếp cơ cấu tổ chức Chính phủ các nhiệm kỳ (từ khóa XII đến nay) và tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá X, thực trạng cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế khu vực hành chính, sự nghiệp(3) và một số kết quả bước đầu triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII (Nghị quyết số 18-NQ/TW).

    Đồng thời, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nước ta hiện nay cho thấy, cơ cấu tổ chức Chính phủ gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và 08 cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo mô hình Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII cho tới nay tiếp tục được giữ ổn định. Trên cơ sở kết quả của việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu tổ chức Chính phủ hiện nay là chủ trương, quan điểm đúng đắn, bước đi thích hợp với trình độ, điều kiện quản lý, bảo đảm hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn… Bên cạnh những kết quả đạt được trong trong thời gian qua, cơ cấu tổ chức Chính phủ mới chỉ tập trung vào việc tổ chức, sắp xếp các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý nhà nước theo các nhóm ngành, lĩnh vực; tính chất hoạt động của các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ là điều chỉnh vĩ mô, tập trung vào việc xây dựng, hoạch định các chính sách quản lý. Tuy nhiên, hiện nay vẫn 0còn thiếu và chưa được đề cập nghiên cứu đến những cơ quan được thành lập nhằm giải quyết một số vấn đề phát sinh trong thực tế quản lý mà không nhất thiết phải giao cho các Bộ. Một số Bộ, ngành còn xuất phát tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, chồng chéo trong việc quản lý đối với các mặt của kinh tế xã hội, dẫn đến sự phát triển các ngành, lĩnh vực còn bị hạn chế trong phát triển. Tư duy lấy quản lý làm hàng đầu cũng đã lỗi thời và cần được thay đổi ngay trong chính nội tại cơ cấu tổ chức Chính phủ, thay vào đó, cần lấy quản trị các đơn vị làm ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc hình thành các cơ quan thực thi chính sách để đảm bảo xử lý những vấn đề trong tình huống khẩn cấp, nhanh nhạy hơn, minh bạch hơn, đáp ứng yêu cầu của công việc. Mặt khác, tính độc lập, tự chủ của các cơ quan này cũng giúp cho các hoạt động của các cơ quan này được đặt trong sự kiểm soát của người dân…

    Do vậy, việc nghiên cứu học tập kinh nghiệm tổ chức các cơ quan thực thi của một số nước trên thế giới hiện nay là cần thiết song cần định hướng, vận động theo mô hình nào là cả một vấn đề cần được nghiên cứu sâu thêm. Mặt khác, xu hướng những nhiệm vụ, lĩnh vực của một số nước thường thành lập các cơ quan thực thi, việc vận dụng từng mô hình cụ thể trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay rõ ràng là một vấn đề cần được tính toán, định hướng.

    I. Kinh nghiệm cơ quan thực thi tại một số nước trên thế giới

1. Cơ quan thực thi tại Vương quốc Anh

    1.1. Bối cảnh hình thành các cơ quan thực thi

    Vương Quốc Anh có nền dân chủ nghị viện và có một hệ thống chính phủ đơn nhất, với một số trách nhiệm nhất định thuộc về Chính phủ Scotland, Wales và Ireland từ năm 1999. Công việc của chính phủ trung ương Anh được thực hiện bởi các Bộ, do Bộ trưởng lãnh đạo và công chức thực thi.

    Mô hình cơ quan điều hành – cơ quan thực thi (excutive agencies) được thực hiện vào những năm 1988, sau khi Chính phủ Anh thực hiện cải cách đặc biệt và sâu rộng đối với việc chuyển đổi phương thức cung ứng dịch vụ công của Chính phủ. Việc sắp xếp lại này được mô tả là nỗ lực đầy tham vọng trong cải cách dịch vụ công trong thế kỷ 20, chính phủ qua đó khuyến nghị sự cần thiết trong việc thành lập các cơ quan hành pháp trong một khuôn khổ, thể chế mới để cung ứng các dịch vụ công của Chính phủ trung ương. Phần lớn công chức dần dần chuyển sang làm việc cho các cơ quan này theo thời gian thay vì làm việc trực tiếp cho các cơ quan chính phủ.

Tại nước Anh, có một khái niệm rõ ràng hơn về cơ quan thực thi: “Cơ quan thực thi là một phần của một cơ quan chính phủ, có chức năng quản lý và có nguồn ngân sách riêng biệt, để thực hiện một phần chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ Vương Quốc Anh, Chính phủ Scotland, Chính phủ Wales và Bắc Ireland”. Các cơ quan thực thi được hưởng sự độc lập do pháp luật quy định bởi các cơ quan bảo đảm. Mô hình cơ quan thực thi đã được áp dụng ở một số các quốc gia như: Anh, Mỹ, Nhật, Canada, Nam Phi… (Wikipedia, 2017)

    1.2. Khung pháp lý về cơ quan thực thi tại Anh

    Khung pháp lý của các cơ quan thực thi khác hoàn toàn so với các cơ quan bán tự trị NDPBs tại Anh. Trong khi các cơ quan NDPBs được thành lập trên cơ sở luật định, các cơ quan thực thi không yêu cầu bất kỳ quy định mới nào được ban hành. Trong hầu hết các trường hợp, các cơ này có tư cách pháp nhân thuộc một phần của cơ quan Bộ chủ quản, đồng thời bị chi phối bởi pháp luật riêng của ngành, lĩnh vực đó.

    Các cơ quan này có nguồn ngân sách riêng được phân bổ theo một trong 3 cách sau: (1) Nghị viện tài trợ hoàn toàn, (2) tài trợ dòng, (3) được tài trợ thông qua một quỹ giao dịch nào đó. Đối với tài trợ hoàn toàn, họ sẽ hoàn toàn chịu sự kiểm soát các khoản thu nhập và chi tiêu. Đối với chế độ tài trợ dòng, các khoản chi tiêu sẽ được kiểm soát, việc chi tiêu có thể tăng lên với điều kiện các khoản thu nhập tăng tương ứng thông qua một khoản thu của tổ chức. Đối với việc tài trợ thông qua quỹ giao dịch thì các cơ quan này hoàn toàn có thể tự chủ trong việc thay đổi dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng để tăng doanh thu cho tổ chức. Tuy nhiên, các Quỹ giao dịch không phải là thực thể có pháp lý riêng biệt, nó vẫn là một phần của cơ quan Bộ.

    1.3. Tổ chức và hoạt động của cơ quan thực thi tại Anh

    1.3.1. Đặc điểm của cơ quan thực thi tại Anh

    Cơ quan thực thi được đề nghị xây dựng vào khoảng những năm 1998 với mục đích cho phép việc thực hiện các chức năng Chính phủ được thực hiện độc lập nhưng trong phạm vi của khung chính sách và nguồn lực được thiết lập bởi bộ phận gốc. Các đặc điểm chính bao gồm:

    - Cung ứng dịch vụ cơ bản về chính sách cho bộ phận gốc (Bộ chủ quản);

    - Thay mặt Bộ trưởng thực hiện các chức năng luật định;

    - Cung ứng dịch vụ cho các bộ phận khác thuộc chính quyền trung ương dựa trên các kỹ năng chuyên môn của đơn vị;

    - Thực hiện các chức năng đặc biệt, tách biệt hoàn toàn so với bộ phận gốc;

    - Cơ quan thực thi có hệ thống tài chính riêng, chính vì vậy họ sẽ trực tiếp thu phí dịch vụ;

    - Công khai báo cáo thường niên, bao gồm các đánh giá về hiệu suất của tổ chức;

    - Tập trung vào chất lượng dịch vụ tới khách hàng và lấy tôn chỉ khách hàng trên hết.

Một đặc điểm khác biệt của các cơ quan thực thi đó là các cơ quan này có thể không có Chủ tịch điều hành trong Hội đồng quản lý. Các cơ quan này được lãnh đạo bởi Giám đốc điều hành, người chịu trách nhiệm trực tiếp trước Bộ trưởng về các hoạt động của cơ quan nhằm đảm bảo công khai, minh bạch khi sử dụng công quỹ.

    1.3.2. Cấu trúc mô hình quản trị

    Cấu trúc quản trị của Cơ quan thực thi bao gồm 2 mô hình tùy chọn, được miêu tả dưới đây. Quyết định sử dụng cấu trúc nào được quyết định dựa trên cấp độ độc lập giữa cơ quan thực thi và bộ phận gốc. Hai tùy chọn trên đặt ra cấu trúc quản trị thiết yếu cho một cơ quan thực thi. Các phần quản trị bổ sung sẽ được xem xét nhằm đảm bảo sự sắp xếp tùy theo từng cơ quan thực thi. Các Bộ tham khảo thêm nhân viên từ Văn phòng Nội các và Kho bạc khi thay đổi cấu trúc quản trị của Cơ quan thực thi từ các mô hình này.

    * Mô hình 1. Cơ quan thực thi hoạt động gần như các Vụ, sử dụng hệ thống nội bộ của Bộ.

    Nếu cơ quan thực thi hoạt động như một Vụ hoặc được coi là một bộ phận quá nhỏ để có thể đảm bảo có đầy đủ một Ban quản lý điều hành đầy đủ thì Bộ phận gốc nên đảm bảo các chức năng cho cơ quan thực thi.

    Trong tình huống này, Cơ quan thực thi không cần thiết có thành viên Hội đồng, không điều hành trong Bản Quản trị của cơ quan. Thay vào đó, cơ quan sẽ được lãnh đạo Ban quản trị, đứng đầu là Giám đốc điều hành.

    Theo mô hình 1, Giám đốc điều hành cũng là chủ trì của ban điều hành.

* Mô hình 2. Cơ quan thực thi có mức độ độc lập lớn hơn từ bộ phận gốc, yêu cầu có thành viên hội đồng không điều hành.

    Đối với trường hợp các cơ quan thực thi cần có mức độ độc lập hơn từ bộ phận gốc để thực thi các chức năng hiệu quả, hoặc cơ quan này được đảm bảo về kích thước cũng như tầm quan trọng để yêu cầu đảm bảo hoạt động độc lập thì cơ quan này sẽ được lãnh đạo bởi một Ban quản lý, đứng đầu là một Chủ tịch không điều hành, và các thành viên điều hành và không điều hành của Ban. Giống với mô hình sau:

    1.4. Một số cơ quan thực thi điển hình tại Anh

    Tại Anh có khoảng 450 cơ quan thực thi, một số cơ quan thực thi nổi bật tại Anh bao gồm:

- Cơ quan đăng ký kinh doanh Vương Quốc Anh (Companies House).

- Cơ quan Thanh tra Kế hoạch của Anh và xứ Wales (PINS).

- Cơ quan Tài trợ Giáo dục và Kỹ năng (The Education and Skills Funding Agency - ESFA).

- Cơ quan cấp phép phương tiện và giấy phép lái xe ở Anh (Driver and Vehicle Licensing Agency – DVLA).

2. Cơ quan thực thi tại Hoa Kỳ

2.1. Cơ quan thực thi của Hoa Kỳ

Cơ quan thực thi pháp luật liên bang Hoa Kỳ là các cơ quan độc lập của Chính phủ liên bang Hoa Kỳ, hay nói cách khác, đó là các cơ quan tồn tại bên ngoài các cơ quan hành pháp liên bang (bao gồm 15 Bộ và Văn phòng Tổng thống). Theo nghĩa hẹp hơn, thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng để mô tả các cơ quan, mặc dù do cơ quan hành pháp quản lý theo hiến pháp, nhưng độc lập với sự kiểm soát của Tổng thống, với chức năng chính là thực thi các chính sách pháp luật liên bang trong phạm vi, chức năng nhiệm vụ được quy định cho các lĩnh vực cụ thể như môi trường, kinh tế, an sinh xã hội, an ninh, giáo dục,... Việc thành lập các cơ quan thực thi pháp luật của Hoa Kỳ nằm trong xu hướng thành lập các cơ quan nhà nước độc lập để thực hiện công tác quản lý trong một lĩnh vực cụ thể bên cạnh các cơ quan của Chính phủ.

2.2. Cơ sở pháp lý quy định tổ chức cơ quan thực thi của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ không có Luật nào quy định chung về các cơ quan thực thi pháp luật. Mỗi cơ quan thành lập đều dựa trên một đạo luật về ngành, lĩnh vực riêng biệt và được Quốc hội thông qua. Ví dụ, US Marshals Service là cơ quan thực thi pháp luật đầu tiên của Hoa Kỳ, được thành lập dựa trên Đạo luật Tư pháp ngày 24 tháng 9 năm 1789. Đạo luật xác định cụ thể rằng thực thi pháp luật là chức năng chính của US Marshals Service. Do đó, nó xác định một cách thích hợp các Cảnh sát trưởng là nhân viên thực thi pháp luật. Uỷ ban Thương mại công bằng của Hoa Kỳ (US Federal Trade Commission - FTC) thành lập dựa trên Đạo luật Clayton năm 1914, đây là Đạo luật về cạnh tranh; Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Hoa Kỳ thành lập dựa trên điều 211, chương 6 Bộ Luật Hoa Kỳ; Ban An toàn giao thông quốc gia được thành lập dựa trên Đạo luật An toàn ngày 01/4/1975; cơ quan quản trị doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ được thành lập dựa trên Đạo luật phục hồi và tái đầu tư năm 2009 và Đạo luật doanh nghiệp nhỏ năm 2010...

2.3. Tổ chức và hoạt động cơ quan thực thi của Hoa Kỳ

2.3.1. Về vị trí và chức năng

Về chức năng, thẩm quyền: cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ được trao quyền chủ yếu trong hoạt động hành pháp, tuy nhiên, cũng có cơ quan được trao thêm quyền tư pháp. Ví dụ, Uỷ ban Thương mại Liên bang của Hoa Kỳ (FTC) được thành lập với chức năng hành pháp là xử lý các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi thương mại có tính chất gian lận hoặc thiếu công bằng. Ngoài ra, chức năng tư pháp ở đây là FTC, có quyền điều tra và xét xử các trường hợp tình nghi vi phạm pháp luật. 

Về vị trí: cùng với những thẩm quyền nêu trên, cách thức tổ chức của cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ cũng đảm bảo cho nó tính độc lập và ít khả năng bị can thiệp về chính trị. Bên cạnh việc xác định cho các cơ quan thực thi pháp luật vị trí tách biệt khỏi Chính phủ và Quốc hội, các đạo luật cũng quy định cơ chế bổ nhiệm, bãi nhiệm và nhiệm kỳ của các thành viên theo hướng đảm bảo rằng không có ai, dù là Tổng thống hay Nghị viện, có thể chi phối cơ quan này.

2.3.2. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động

Cơ cấu tổ chức chung của các cơ quan thực thi Hoa Kỳ được điều hành bởi Hội đồng đa thành viên. Số lượng thành viên bao gồm từ 05 đến 07 và các thành viên này do Tổng thống bổ nhiệm sau khi đã tham vấn và được sự chấp thuận của Thượng viện. Như vậy, Tổng thống hay Thượng viện đều không thể tự mình quyết định bổ nhiệm thành viên của các cơ quan thực thi pháp luật. Tổng thống chỉ có thể bãi nhiệm thành viên của các cơ quan này trong trường hợp "thiếu hiệu quả, lơ là trách nhiệm hay có hành vi sai trái". Điều này có nghĩa là sau khi được bổ nhiệm thì các thành viên của cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ có thể giữ khoảng cách trong mối quan hệ với Tổng thống. Nhiệm kỳ của các thành viên cơ quan thực thi Hoa Kỳ cũng được thiết kế theo cách tách biệt với các Bộ và Tổng thống. Đạo luật riêng biệt của từng cơ quan thực thi quy định nhiệm kỳ của thành viên là 07 năm, tuy nhiên, các thành viên đầu tiên sẽ có nhiệm kỳ lần lượt tăng dần đến 07 năm. Ví dụ, đối với cơ quan có năm thành viên, năm thành viên đầu tiên có nhiệm kỳ lần lượt là 03 năm, 04 năm, 05 năm, 06 năm và 07 năm. Như vậy, mỗi năm sẽ có một uỷ viên hết nhiệm kỳ và một thành viên mới được bổ nhiệm (hoặc tái bổ nhiệm). Cách thức này khiến cho không một Tổng thống nào có thể bổ nhiệm toàn bộ các thành viên của các cơ quan thực thi này. Một ví dụ cụ thể là cơ cấu tổ chức của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). CIA bao gồm 07 thành viên: Giám đốc, Phó Giám đốc, Giám đốc điều hành chung, Giám đốc quản trị, Giám đốc thông tin tình báo, Giám đốc công nghệ và Giám đốc hoạt động. Bên cạnh đó, cũng có các phòng chức năng và các nhân viên làm việc trong CIA.

Cơ chế hoạt động của cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ cũng đảm bảo tính lưỡng đảng và nguyên tắc dựa vào chuyên môn. Đạo luật riêng biệt của các cơ quan này quy định không có đảng nào được có quá ba thành viên của một cơ quan thực thi bất kỳ. Quy tắc này đảm bảo không có Đảng nào có ưu thế quá lớn để chi phối các cơ quan thực thi này. Các thành viên được lựa chọn theo tiêu chí là những chuyên gia thực sự trong các lĩnh vực liên quan tới chính sách. Điều này giúp cho các quyết định của cơ quan thực thi đưa ra có tính kinh tế và pháp lý thay vì những động cơ chính trị. Sự trung lập về chính trị và nhấn mạnh vào tính chuyên môn cho phép các cơ quan thực thi của Hoa Kỳ đặt yêu cầu về thực thi các chính sách liên quan đến các lĩnh vực lên ưu tiên cao nhất trong các quyết định của mình.

2.4. Một số cơ quan thực thi của Hoa Kỳ

Hiện nay, ở Hoa Kỳ có hơn 100 cơ quan thực thi ở tất cả các lĩnh vực. Một số cơ quan thực thi tiêu biểu như:

- Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC).

- Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA): CIA cung cấp thông tin tình báo về các mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh quốc gia cho tổng thống và các nhà hoạch định chính sách cấp cao của Hoa Kỳ.

- Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang.

- Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSC): Thực thi luật bảo vệ người tiêu dung, bảo vệ người dân khỏi những rủi ro thương tật hoặc tử vong không đáng có từ các sản phẩm tiêu dùng.

- Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC): Quản lý và thực thi luật tài chính trong bầu cử ở Hoa Kỳ.

- Ban An toàn Cơ sở Hạt nhân Quốc phòng: Giám sát tổ hợp vũ khí hạt nhân do Bộ Năng lượng Hoa Kỳ vận hành.

- Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC): Quản lý thông tin liên lạc giữa các tiểu bang và quốc tế bằng vô tuyến, truyền hình, dây, vệ tinh và cáp.

- Cơ quan Quản lý Khẩn cấp Liên bang (FEMA): Quản lý thảm họa thiên tai lũ lụt và cứu trợ thảm họa quốc gia.

- Uỷ ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC).

- Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ ( FDA).

- Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA).

- Cơ quan Sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ (OSHA).

3. Cơ quan thực thi tại Canada

    3.1. Bối cảnh thành lập các tổ chức thực thi ở Canada

    Kinh nghiệm của Canada trong việc tạo ra các hình thức tổ chức mới để cung cấp dịch vụ là sản phẩm của nền văn hóa khác biệt và hình thức chính trị của chủ nghĩa liên bang. Năm 1867, Canada thông qua hình thức Chính phủ liên bang. Bởi vì quốc gia mới bao gồm các cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa và khu vực đa dạng, chủ nghĩa liên bang được coi là sự so sánh giữa sự hội nhập hoàn toàn của các thuộc địa độc lập. Các nhà quản lý nghĩ rằng điều này sẽ đoàn kết các cộng đồng khác nhau dưới một Chính phủ chung vì các mục tiêu chung trong khi bảo tồn, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt của của thể chế thông qua việc thành lập các chính phủ khu vực riêng biệt.

    Tại Canada, trách nhiệm quốc gia được giao cho chính quyền cấp liên bang (cấp trung ương) và chính quyền cấp bang (tại Canada có 10 bang và 03 vùng lãnh thổ). Các trách nhiệm được giao cho Quốc hội liên bang bao gồm phòng thủ quốc gia, thương mại và thương mại liên tỉnh và quốc tế, hệ thống ngân hàng và tiền tệ, luật hình sự và nghề cá. Các tòa án cũng đã trao quyền tài phán của chính phủ liên bang đối với hàng không, vận tải biển, đường sắt, viễn thông và năng lượng nguyên tử. Các cơ quan lập pháp cấp tỉnh chịu trách nhiệm về giáo dục, tài sản và quyền công dân, quản lý tư pháp, hệ thống chăm sóc sức khỏe, tài nguyên thiên nhiên, an sinh xã hội, y tế và các tổ chức đa ngành, đa lĩnh vực trong lãnh thổ của họ.

    Vào đầu những năm 1990, một sáng kiến lớn của chính phủ liên bang đã được đưa ra với mục đích đổi mới trong Chính phủ Canada. Một phần chính của sáng kiến này là đánh giá Chương trình hoạt động của Chính phủ, một nỗ lực trong toàn Chính phủ nhằm xem xét một cách có hệ thống trong việc thiết kế, cung cấp tất cả các chương trình, nhiệm vụ, hoạt động và dịch vụ của Chính phủ và Chính phủ liên bang. Việc kiểm tra các chương trình hoạt động và dịch vụ liên bang này tập trung vào các vấn đề như mức độ kiểm soát quyền lực nhà nước trong đó có phục vụ lợi ích công. Từ đó, đánh giá vai trò của khu vực công và Chính phủ liên bang, đưa ra những tiềm năng có thể chuyển giao nhiệm vụ cấp chính phủ, hoặc các lĩnh vực khác có hiệu lực, hiệu quả, tiết kiệm chi phí hoạt động của Chính phủ. Để hỗ trợ các mục tiêu rà soát, đánh giá các chương trình hoạt động của Chính phủ, một chính sách nhằm đánh giá một cách toàn diện hệ thống cơ cấu tổ chức chính phủ Canada đã được chấp thuận trong năm 1996. Có ba kết luận cơ bản rút ra từ đánh giá Chương trình này, bao gồm:

    - Hoạt động của Chính phủ càng đơn giản càng dẫn đến sự hiệu quả trong chính sách;

    - Quan hệ đối tác hợp tác không chỉ là công cụ quản lý mà còn là công cụ quản trị;

    - Cộng tác là hoạt động cần thiết để gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau;

    - Quản trị công phân tán: Các cơ quan, chính quyền và các cơ quan tự trị khác ở Canada được hiểu trong khái niệm tách hoạt động của Chính phủ thành xây dựng chính sách và thực thi chính sách, điều này làm giảm sự khác biệt quan trọng giữa ba nhiệm vụ thiết yếu trong một tổ chức: phát triển chính sách, xây dựng chính sách và thực thi chính sách. Cơ quan thực thi của Canada ra đời dựa trên các yêu cầu về cải cách tổ chức của Chính phủ và tồn tại ngay trong chính các Bộ thuộc các lĩnh vực.

    3.2. Khuôn khổ pháp lý và tổ chức

    Tại Canada, không có một luật chung nào cụ thể của việc phải thành lập các Cơ quan thực thi. Mỗi một cơ quan thực thi được thành lập dựa trên một đạo luật riêng biệt của ngành, lĩnh vực cụ thể đã được Quốc hội quy định. Ví dụ, cơ quan công viên Canada được thành lập theo Bộ Luật cơ quan công viên Canada vào tháng 12 năm 1998. Về mặt cơ bản, khuôn khổ pháp lý và tổ chức cơ quan thực thi của Canada có nét tương đồng với các cơ quan thực thi tại Mỹ, tuy nhiên, cũng có một số nét khác biệt.

    - Kể từ giữa những năm 1990, Canada, giống như các nước thành viên OECD khác, đã có sự chuyển hướng sang việc thành lập các cơ quan thực hiện  thực thi, loại bỏ nhiều hơn sự giám sát, kiểm soát trực tiếp và hành chính hoặc chính trị của các cơ quan trung ương. Các cơ quan thực thi được hình thành dựa trên các Luật chuyên ngành của các tổ chức này.

    3.3. Cơ cấu tổ chức và một số cơ quan thực thi chính sách của Canada

    Từ năm 1997, ở Canada xuất hiện xu hướng tách biệt các cơ quan thực hiện chính sách công ra khỏi cơ quan hành chính với sự hình thành 03 cơ quan thực thi chính sách quan trọng là: Cơ quan Hải quan và Thuế Canada (1999), Cơ quan công viên Canada (1999) và Cơ quan thanh tra thực phẩm Canada (1997).

    Khác với cơ quan hoạt động theo cơ chế đặc biệt, các cơ quan này được Luật pháp cho phép thành lập, trong đó xác định rõ phương châm hoạt động của cơ quan, chế độ quản trị, quyền lực và trách nhiệm. Các cơ quan thực thi có sự linh hoạt đặc biệt theo Luật định như tăng quyền tự chủ về nhân sự, tính linh hoạt về tài chính và hành chính, chẳng hạn như quyền kí kết hiệp ước với các đối tác, quyền chi tiêu và sử dụng thu nhập. Các cơ quan thực thi chính sách của Canada vẫn trực thuộc Chính phủ và có trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Bộ trưởng.

    Các cơ quan thực thi chính sách hoạt động vì lợi ích của người dân và có thể cộng tác tự do với chính quyền cấp bang. Đồng thời, lợi ích lớn của các cơ quan này là giúp cho ngân sách quốc gia giảm chi tiêu và cân bằng sự hợp lý giữa tính linh hoạt và chịu trách nhiệm trong hoạt động.

    Các kiểu tổ chức và sắp xếp các đơn vị:

    - Các tổ chức mới trong khuôn khổ tổ chức liên bang, bao gồm: Các cơ quan thực thi chính sách; Các cơ quan điều hành đặc biệt (SOAS); Các cơ quan dịch vụ cấp sở.

    - Thỏa thuận hợp tác với các Bộ, Chính phủ và các ngành khác để thực hiện các chính sách, chẳng hạn như: Hợp tác với các bộ phận khác; Hợp tác với các chính phủ khác; Hợp tác với khu vực tư nhân và khu vực phi lợi nhuận; Các tập đoàn trong việc quản trị; Ký hợp đồng ngoài các chương trình và dịch vụ của liên bang cho khu vực tư nhân.

    4. Cơ quan thực thi tại Nhật Bản

    4.1. Bối cảnh ra đời cơ quan thực thi tại Nhật Bản

    Các cơ quan hành chính hợp nhất tại Nhật (IAA) là cơ quan thuộc chính phủ, hoạt động và vận hành dựa trên các nguyên tắc, ngân sách và nguồn nhân lực riêng. IAA được tổ chức dựa trên chức năng và cách thức hoạt động của từng tổ chức.

    Tại Nhật, có khoảng hơn 80 cơ quan hành chính hợp nhất, các cơ quan này được phân chia theo 03 danh mục sau: 1) Cơ quan tham gia thực thi hành chính (Agency Engaged in Administrative execution, 2) Cơ quan nghiên cứu và phát triển quốc gia (National Research and Development Agency); 3) Cơ quan được quản lý theo mục tiêu trung hạn (Agency Managed under the Medium – term Objective).

    Kể từ 01/4/2017, có 07 cơ quan được chỉ định là “Cơ quan tham gia vào thực thi hành chính”, 27 cơ quan là “Cơ quan nghiên cứu và phát triển quốc gia” và phần còn lại là “Cơ quan được quản lý theo mục tiêu trung hạn”.

    Tính pháp lý về hoạt động của những cơ quan này đều được quy định rõ tại Đạo luật về các Quy tắc chung cho các cơ quan hành chính hợp nhất số 103 (ban hành năm 1999; bổ sung, sửa đổi năm 2014). “Cơ quan hành chính hợp nhất” hình thành với mục đích thúc đẩy hiệu quả việc thực thi chính sách từ các quy trình bên trong cho đến các dịch vụ cung ứng nhằm đảm bảo sự ổn định cho người dân, xã hội và nền kinh tế, cụ thể như sau:

- Trách nhiệm riêng và quyền đưa ra các quyết định của IAA được tách biệt với cơ quan có thẩm quyền của Bộ trưởng.

- Bộ trưởng đưa ra các mục tiêu và đánh giá trước khi thực hiện đối với các IAA. Các giai đoạn mục tiêu là khác nhau, tùy thuộc vào loại hình tổ chức.

- IAA có đủ quyền quyết định trong việc thực hiện để đạt được các mục tiêu của mình và các can thiệp trực tiếp của Bộ trưởng, được giới hạn trong các trường hợp thực sự cần thiết hoặc được liệt kê theo quy định pháp luật.

- Các hoạt động và cấu trúc của mỗi IAA được xem xét định kỳ vào cuối mỗi giai đoạn mục tiêu.

- Việc hạch toán của IAA phải dựa trên các nguyên tắc kế toán doanh nghiệp như một nguyên tắc chung. Ngoài ra, nhiều loại thông tin công bố cần phải phù hợp với các quy định của Đạo luật.

    Hệ thống IAA được giới thiệu vào năm 2001 và là một phần của nhiệm vụ cải cách chính phủ trung ương dựa trên ý tưởng rằng các hoạt động hoạch định chính sách và thực hiện chính sách nên được tách biệt nhằm giải quyết một số vấn đề của hệ thống hiện tại như:

          - Thiếu rõ ràng về trách nhiệm quản lý;

          - Hoạt động kém hiệu quả và không công khai;

          - Tự tuyên truyền các dịch vụ và tổ chức trong phạm vi nội bộ;

          - Thiếu quyền tự chủ liên quan đến quản trị.

    Đây chính là những nguyên nhân chính dẫn tới sự ra đời của hệ thống IAA, hệ thống IAA được thiết kế và xây dựng với hy vọng sẽ giải quyết được những vấn đề trên.

4.2. Cở sở pháp lý quy định tổ chức cơ quan thực thi chính sách

Hiện nay ở Nhật Bản, các cơ quan thực thi chính sách tuân theo quy tắc chung của Đạo luật số 103 -Luật chung cơ quan hành chính hợp nhất năm 1999 (General Act of Incorporated Administrative Agency (GAIAA)) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2001 87 luật riêng, gồm 7 luật dành cho cơ quan hành chính, 27 luật dành cho các cơ quan nghiên cứu và phát triển quốc gia, và 53 luật dành cho các cơ quan quản lý mục tiêu trung hạn; Đạo luật cung cấp các quy tắc chung về cấu trúc quản trị của IAA

Ngoài Đạo luật chung, Nhật Bản quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính bằng các văn bản khác như Pháp lệnh, Nghị định như:

- Pháp lệnh truyền thông số 28 năm 2017 của Bộ trưởng về các vấn đề chung liên quan đến tổ chức, vận hành và quản lý các cơ quan hành chính hợp nhất.

- Nghị định số 316 của Chính phủ: Pháp lệnh trong nước về những vấn đề chung liên quan đến tổ chức, hoạt động và quản lý của các cơ quan hành chính độc lập.

- Một số luật riêng liên quan tới các vấn đề cụ thể cho từng IAA.

- Đặc biệt, một số cơ quan đặc biệt còn có các luật đặc biệt duy nhất.

    4.3. Tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính độc lập tại Nhật

    4.3.1. Phân loại các lĩnh vực của cơ quan IAAs:

    - Cơ quan về Nghiên cứu và Phát triển

    - Giáo dục/Đào tạo

    - Quản lý các công trình công cộng

    - Viện trợ tài chính

4.3.2. Chức năng của IAAs:

    a. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công:

    Quản lý mục tiêu trung hạn, đánh giá trước khi thực hiện bởi các ủy ban bên thứ ba: Thiết lập mục tiêu trong 03 đến 05 năm; Đánh giá bởi ủy ban của Bộ; Đánh giá chéo lần thứ hai bởi Ủy ban Đánh giá Chính sách và Đánh giá Cơ quan Hành chính Hợp nhất (CPIAA) được thành lập trong Bộ Nội vụ và Truyền thông (MIC).

    Đánh giá định kỳ về tổ chức và hoạt động của tổ chức: Đánh giá tổng thể của Bộ trưởng phụ trách sau đó, CPIAA của Bộ Nội vụ và Truyền thông đưa ra các khuyến nghị về cải thiện hoặc loại bỏ các dịch vụ hành chính chính của mỗi cơ quan.

    Tuân thủ các tiêu chuẩn quản trị: Lưu trữ số liệu dựa trên các nguyên tắc kế toán, kiểm toán tài chính của kiểm toán viên kế toán.

    Tối thiểu hóa các chức danh điều hành: Số lượng giám đốc điều hành được giới hạn bởi luật pháp cho mỗi cơ quan.

    b. Quản lý tự chủ:

    Tập trung quyền hạn đối với người đứng đầu của IAA: Chỉ người đứng đầu IAA mới có quyền và thẩm quyền bổ nhiệm hoặc cách chức điều hành. Người đứng đầu cần điều hành IAA phù hợp với mục tiêu và kế hoạch trung hạn của tổ chức.

    Giảm thiểu sự tham gia quá mức của Bộ trưởng phụ trách: Sự tham gia của Bộ trưởng được pháp luật quy định, quản lý tài chính bằng “khoản tài trợ hoạt động”.

    Bổ nhiệm người điều hành trên cơ sở “đúng người, đúng chỗ” (ví dụ: tuyển dụng từ khu vực tư nhân).

    c. Công khai, minh bạch:

    Công bố thông tin rộng rãi về quản trị và tài chính: Ví dụ, báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo lãi lỗ, báo cáo chi phí hoạt động dịch vụ công);  Kết quả đánh giá hoa hồng của bên thứ ba; Cơ sở trả lương cho giám đốc điều hành.

    Công bố tài liệu nội bộ: Tiết lộ thông tin nội bộ dựa trên các nguyên tác của “Đạo luật về quyền tiếp cận thông tin do các cơ quan hành chính hợp nhất nắm giữ”.

    4.3.3. Quy trình liên quan tới thành lập Cơ quan hành chính hợp nhất:

    a. Xác định Chủ tịch

    Bộ trưởng có thẩm quyền chỉ định một người làm chủ tịch của Cơ quan hành chính được hợp nhất (sau đây gọi là "Chủ tịch cơ quan") và người sẽ làm kiểm toán viên của cơ quan đó.

    Một người được đề cử làm Chủ tịch hoặc kiểm toán viên theo các quy định của Đạo luật được coi là sẽ được bổ nhiệm tương ứng làm Chủ tịch hoặc kiểm toán viên tại thời điểm thành lập Cơ quan quản lý hợp nhất theo quy định.

    b. Xác định thành viên của ban tổ chức thành lập Cơ quan hành chính hợp nhất

    Bộ trưởng có thẩm quyền bổ nhiệm các thành viên ban điều hành với mục đích xử lý các công việc liên quan đến việc thành lập Cơ quan hành chính hợp nhất.

    Khi các thành viên ban tổ chức hoàn thành việc chuẩn bị để thành lập Cơ quan hành chính được hợp nhất, họ phải thông báo cho bộ trưởng có thẩm quyền về việc đó và bàn giao các công việc liên quan đến việc thành lập cho người được đề cử làm Chủ tịch cơ quan theo quy định của Điều trước đó, không chậm trễ.

    c. Đăng ký cơ quan hành chính hợp nhất

    Khi người được đề cử làm Chủ tịch theo quy định, người đó phải hoàn thành việc đăng ký thành lập không chậm trễ theo các quy định của Nội các.

    4.3.4. Về cơ cấu nhân sự:

    Cơ quan hành chính được hợp nhất có Chủ tịch cơ quan và (các) kiểm toán viên làm cán bộ của cơ quan, theo các quy định của Đạo luật cá nhân có liên quan.

    Một Cơ quan Hành chính hợp nhất có thể có các viên chức khác ngoài các viên chức được quy định, và theo các quy định của Đạo luật Cá nhân có liên quan.

    Chức danh Chủ tịch cơ quan của Cơ quan hành chính được hợp nhất, số lượng cố định và chức danh của các viên chức được quy định ở đoạn trên và số lượng kiểm toán viên cố định của cơ quan đó được quy định bởi Đạo luật cá nhân có liên quan.

    4.3.5. Đánh giá hiệu quả hoạt động của IAA

    Quy trình đánh giá IAA tách biệt hoàn toàn với quy trình đánh giá của các đơn vị trực thuộc Bộ khác. Việc đánh giá IAA tại Nhật do: 1) Một Ủy ban đánh giá IAA được thành lập trong từng cơ quan Bộ; 2) Ủy ban đánh giá chính sách và IAA (CPIAA) thuộc Bộ Nội vụ và truyền thông. 

    4.4. Một số cơ quan hành chính độc lập của Nhật Bản

    - Cục Thúc đẩy bình đẳng giới thuộc Văn phòng Nội Các

.   - Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Y tế Nhật Bản (AMED)

    - Ủy ban An toàn Thực phẩm….

    II. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm dành cho Việt Nam

    1. Một số khái niệm rút ra về cơ quan thực thi

    Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm “cơ quan thực thi” vẫn còn khá mới và hầu như chưa có nhiều các tài liệu của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này. Về cơ bản, cấu thành bộ máy quản lý hành chính nhà nước nói chung cần 02 bộ phận. Một bộ phận tập trung vào việc ban hành và làm chính sách, sau đó chuyển giao chính sách sang cho bộ phận thực thi chính sách, bao gồm: 1) cung cấp dịch vụ cơ bản cho chính sách của cơ quan đó; 2) thực hiện các chức năng theo luật định hoặc quy định; 3) cung cấp dịch vụ cho các bộ phận khác của chính quyền trung ương bằng các kỹ năng chuyên môn; 4) cung cấp các chức năng chuyên biệt riêng biệt cho vai trò cốt lõi của bộ phận thực thi chính sách. Những khái niệm về một bộ phận chuyên biệt làm nhiệm vụ thực thi tại Việt Nam còn khác, chưa rõ nét. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu mô hình cơ quan thực thi chính sách tại một số nước phát triển, tác giả đã tìm hiểu thêm được một số quan niệm về cơ quan thực thi, cụ thể như sau:

    - Tại nước Anh, với khoảng 405 cơ quan thực thi sau 30 năm phát triển, một khái niệm về cơ quan thực thi được hiểu là: “Cơ quan thực thi là một phần của một cơ quan chính phủ, có chức năng quản lý và có nguồn ngân sách riêng biệt, để thực hiện một phần chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ Vương Quốc Anh, Chính phủ Scotland, Chính phủ Wales và Bắc Ireland”. Các cơ quan thực thi được hưởng sự độc lập do pháp luật quy định bởi các cơ quan bảo đảm. Mô hình cơ quan thực thi đã được áp dụng ở một số các quốc gia như: Anh, Mỹ, Nhật, Canada, Nam Phi… (Wikipedia, 2017)

    - Tại Mỹ và Canada, khái niệm cơ quan thực thi được hiểu là “Các cơ quan độc lập của chính phủ liên bang, hay nói cách khác, đó là các cơ quan tồn tại bên ngoài các cơ quan hành pháp liên bang”. Theo nghĩa hẹp hơn, thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng để mô tả các cơ quan, mặc dù do cơ quan hành pháp quản lý theo hiến pháp, nhưng độc lập với sự kiểm soát của Tổng thống, với chức năng chính là thực thi các chính sách pháp luật liên bang trong phạm vi, chức năng nhiệm vụ được quy định cho các lĩnh vực cụ thể như môi trường, kinh tế, an sinh xã hội, an ninh, giáo dục,...

    - Tại Nhật bản, khái niệm cơ quan thực thi được hiểu là “Cơ quan hành chính hợp nhất hình thành với mục đích thúc đẩy hiệu quả việc thực thi chính sách từ các quy trình bên trong cho đến các dịch vụ cung ứng nhằm đảm bảo sự ổn định cho người dân, xã hội và nền kinh tế”.

    Từ cách hiểu về một số khái niệm cơ quan thực thi tại một số nước ở trên, tác giả đưa ra một số khái niệm cơ quan thực thi được hiểu là: “Các cơ quan có thể trực thuộc Chính phủ, hoặc các Bộ, ngành hoặc không nằm trong cơ cấu Chính phủ, không có chức năng ra chính sách, chỉ cung cấp dịch vụ hành chính công đối với ngành, lĩnh vực trong đời sống, kinh tế và xã hội”.         Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn cần bổ sung bởi các nghiên cứu tiếp theo nhằm làm rõ ràng và phù hợp hơn với cơ cấu tổ chức Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ tại Việt Nam.

    2. Nhận xét chung

    - Ngoại trừ Nhật Bản, hầu hết các cơ quan thực thi tại các nước đều hoạt động dựa trên một khung Luật riêng của ngành, lĩnh vực mà cơ quan thực thi đó đang hoạt động.

    - Các cơ quan thực thi là bộ phận đơn vị có thể trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ, ngành và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng trong lĩnh vực đó về hoạt động dịch vụ hành chính công hoặc quản lý nhà nước hoặc không cần thiết phải nằm trong cơ cấu Chính phủ, thực hiện các dịch vụ công, dịch vụ hành chính công cho xã hội.

    - Cơ cấu tổ chức chung của các cơ quan thực thi chịu trách nhiệm chính trước Bộ trưởng trong lĩnh vực đó, dưới Bộ trưởng có thể là một Ban Điều hành/ Thư kí/ Giám đốc phụ trách các cơ quan thực thi, tiếp theo là bộ phận giúp việc và các đơn vị thực hiện chức năng của cơ quan thực thi.

    - Các cơ quan thực thi có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm riêng về tuyển dụng, phân công nhân sự làm việc. Nguồn nhân lực làm việc trong các cơ quan thực thi có thể là công chức hoặc cũng có thể kí hợp đồng dưới dạng công việc, tùy vào yêu cầu công việc của các tổ chức đó.

    - Các cơ quan thực thi có quyền tự chủ về ngân sách và các nguồn thu, chịu trách nhiệm kiểm toán, giám sát, thanh tra của các cơ quan có thẩm quyền đối với các khoản thu, chi của cơ quan này.

    - Các nước đều tổ chức các cơ quan thực thi ở cấp Trung ương (thuộc Bộ ngành) và hầu như không có ở các cấp thấp hơn hoặc nếu có thì chỉ là cấp nhỏ hơn của Cơ quan thực thi theo ngành dọc.

    - Các cơ quan thực thi được trao những văn bản khung để thực hiện quyền lực của mình theo đúng quy định của pháp luật về lĩnh vực đang quản lý hoặc thực hiện dịch vụ công

    III. Kết luận

    Qua đánh giá kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cơ quan thực thi chính sách, cũng như nắm bắt được bối cảnh ra đời, pháp lý, cơ cấu tổ chức và một số hoạt động của các cơ quan này. Có thể thấy rằng, việc tổ chức hay thành lập các cơ quan thực thi là một hướng đi đúng đắn và nên được áp dụng tại Việt Nam trong bối cảnh đất nước ta đang ngày càng phát triển. Cơ quan thực thi ra đời nhằm giúp Chính phủ tránh được việc “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, giúp minh bạch hóa quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, việc tổ chức thực hiện các cơ quan thực thi còn giúp Chính phủ và nhà nước tinh gọn bộ máy, giảm thiểu nguồn nhân lực trong các đơn vị này mà vẫn đạt được hiệu quả cao nhất. Qua những bài học kinh nghiệm của một số nước, có thể thế rằng, tuy cách thức tổ chức các cơ quan thực thi tại các nước có sự khác nhau, nhưng vẫn hướng đến một mục tiêu chung là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước, dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch, lấy quản trị thay cho quản lý và hướng tới mục tiêu lấy người dân làm trung tâm trong sự phát triển đó. Đây cũng là con đường mà Việt Nam sẽ phải đi theo trong tương lai sắp tới nếu không muốn bị tụt hậu trên con đường phát triển đất nước. Tuy nhiên, để áp dụng mô hình các cơ quan thực thi chính sách tại Việt Nam thành công, nhất thiết có sự đồng ý, nhất quán của Đảng và Chính phủ cũng như sự giám sát của người dân trong quá trình đổi mới cơ cấu tổ chức Chính phủ nhằm đưa nước ta ngày càng phát triển theo hướng hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm./.

NCS. Phan Đăng Sơn, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Tài liệu tham khảo:

1. The Executive Agency Revolution in Whitehall, Public Interest Versus Bureau-Shaping Perspectives, Oliver James, Lecturer in Politics, University of Exeter, 2003;

2.  Better government services, Executive agencies in the 21st century, The agency policy review – report and recommendations, The prime minister’s Office of public services reform;

3. The Next Steps Initiative, Report by the Comptroller and Auditor General, Ordered by the House of Commons to be printed 6 June 1989;

4. References: James, O. Moseley, A., Petrovsky, N. and Boyne, G. 2011. 'Agencization in UK', in Verhoest K., van Thiel S., Bouckaert G. and Laegreid P. (eds ) (2011), Government agencies in Europe and beyond: Practices and lessons from 30 countries, Chapter 6: United Kingdom;

5. An examination of the relationship between special operating agencies  and ministerial responsibility in the government of, David J.Markham,  Department of Political Studies The University of Manitoba Winnipeg. Manitoba, April, 1999;

6. 平成十一年法律第百三号,独立行政法人通則法 (Đạo luật số 103 năm 1999, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2001 của Nhật Bản);

7. Performance-based organizations, Lessons From the British Next Steps Initiative, Statement of J. Christopher Mihm, Acting ssociate Director Federal Management and Workforce IssuesGeneral Government Division, United States General Accounting Office, For Release on DeliveryExpected at 9:30 a.m. EDT Tuesday July, 1997;

8. Distributed Public Governance:Agencies, Authorities and Other Autonomous Bodiesin Canada, by Toby Fyfe and Tom Fitzpatrick, OECD, 2002;

9. Annual Report 2013 – 2014, Special Operating Agencies Financing Authority, Treasury Board Secretariat200 - 386 Broadway, Winnipeg, Manitoba R3C 3R6T 204 945-4150 F 204 945-4878;

    10. Excutive Agencies: A guide for departments 2015;

11. Paul R. Verkuil (1988), The Purposes and Limits of Independent Agencies, College of William & Mary Law School;

12. Marshall J.Breger (2015), Independent Agencies in the United States: Law, Structure, and Politics, Oxford University Press;

13.https://www.thoughtco.com/independent-executive-agencies-of-us government - 4119935;

14.https://en.wikipedia.org/wiki/Independent_agencies_of_the_United_States_government;

15.https://en.wikipedia.org/wiki/Central_Intelligence_Agency#Organizational_structure;

16.https://www.cas.go.jp/jp/gaiyou/jimu/jinjikyoku/2017_pdf/17_2017iaa.pdf

 

Tin khác