Video giới thiệu




















Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 24.177.276

Khách Online : 62

Lý luận thực tiễn

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công chức ngành nội vụ qua số liệu điều tra, thống kê

20:14 22/11/2021 | Lượt xem : 711

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 711

Ngành Nội vụ theo nghĩa rộng là ngành quản lý lĩnh vực Nội vụ của Nhà nước, quản lý tất cả các công việc mang tính chất nội bộ, nội trị quốc gia, theo nghĩa hẹp đó là ngành quản lý các lĩnh vực công tác hành chính trong nước. Về tổ chức, ngành Nội vụ gồm các cơ quan tổ chức ở Trung ương và địa phương, chịu sự hướng dẫn về mặt chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Nội vụ trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các ngành, các lĩnh vực Nội vụ.

Hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về ngành Nội vụ tạo thành một thể thống nhất theo cơ cấu ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. Ở Trung ương, ngoài Bộ Nội vụ là cơ quan đầu ngành còn có các vụ/ban tổ chức cán bộ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp tỉnh) là Sở Nội vụ, phòng tổ chức cán bộ các sở ngành thuộc UBND cấp tỉnh và ở cấp huyện là Phòng Nội vụ.

Xét trong mối quan hệ với các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, ngành Nội vụ có vị trí đặc biệt quan trọng vì nắm giữ các nhiệm vụ, quyền hạn có liên quan trực tiếp đến việc  xây dựng và quản lý các chủ thể của quản lý nhà nước (tổ chức, nhân sự của bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương) và đến các lĩnh vực rất nhạy cảm trong đời sống xã hội (Tôn giáo, Hội và Tổ chức phi Chính phủ, Thi đua – Khen thưởng). Các lĩnh vực thuộc phạm vi của ngành Nội vụ có ý nghĩa quyết định trực tiếp hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy hành chính nhà nước; tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động của tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này đòi hỏi đội ngũ công chức ngành Nội vụ phải có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức, không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Nội vụ và phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

1. Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ

Theo Báo cáo số 7046/BC-BNV tổng kết 10 năm thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ giai đoạn 2011-2020 của Bộ Nội vụ thì số lượng công chức ngành Nội vụ trên cả nước là 19.641 người, trong đó, công chức Nội vụ ở các Bộ ngành là 6.644 (chiếm 33,8%), công chức Nội vụ tại địa phương là 12.997 người (chiếm 66,2%)[1].

Năm 2019, Viện Khoa học tổ chức nhà nước triển khai thực hiện Dự án “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ”. Dự án thực hiện điều tra đối với nhóm công chức Nội vụ trong phạm vi hẹp, bao gồm công chức thuộc Bộ Nội vụ, công chức Sở Nội vụ và công chức tại các Phòng Nội vụ. Tại thời điểm thống kê tháng 6/2020, tổng số công chức của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và Phòng Nội vụ là 9.131 người.

Sau đây là tổng hợp một số thông tin, số liệu thống kê từ Dự án về thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ công chức Nội vụ.

1.1. Về số lượng công chức Nội vụ

- Công chức của Bộ Nội vụ là 437 người (chiếm 2,2% tổng số công chức toàn ngành, chiếm 6,6% số công chức ngành Nội vụ cấp Trung ương);

-Công chức công tác tại Sở Nội vụ và Phòng Nội vụ là 8.694 (chiếm 44,3% tổng số công chức toàn ngành, chiếm 66,9% số công chức ngành Nội vụ ở địa phương).

1.2. Về cơ công chức ngành Nội vụ

1.2.1. Cơ cấu cơ cấu giới tính

Nhìn chung, công chức Nội vụ tại thời điểm thực hiện điều tra có cơ cấu giới tính khá cân bằng (nam 53%, nữ 47%). Cơ cấu nhân lực theo giới tính đang dần tiến tới cân bằng do những chính sách về bình đẳng giới, ưu tiên nữ giới trong hoạt động công vụ, đặc biệt ở các Sở Nội vụ, tỷ lệ nam giới và nữ giới theo thứ tự là 51% và 49%.

Trong phạm vi toàn tỉnh, giữa các địa phương khác nhau có có sự chênh lệch nam-nữ quá lớn như: Đồng Tháp, Hậu Giang tỷ lệ nam giới là 67%; ngược lại, tại Thanh Hóa, Hưng Yên, tỷ lệ nữ giới lại là 60%. Tuy nhiên, xét ở góc độ các Sở Nội vụ đa số có xu hướng nhiều nữ giới (33/63 Sở Nội vụ có tỷ lệ nữ giới từ 50% trở lên), ở các phòng Nội vụ thì đa phần nhiều nam giới hơn (17/63 tỉnh có tỷ lệ công chức nữ tại phòng Nội vụ huyện từ 50% trở lên).

1.2.2. Cơ cấu chức vụ lãnh đạo, quản lý

Tại Bộ Nội vụ, tỷ lệ công chức lãnh đạo, quản lý là 15,3%. Tuy nhiên, tại các địa phương, số công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý qua thống kê khá cao, chiếm 39% tỷ lệ công chức Nội vụ địa phương (3361/8694 người), trong đó, cấp sở trung bình là 42,9% và cấp phòng là 35%. Ở một số tỉnh, tỷ lệ này vượt quá 50%.

1.2.3.  Cơ cấu dân tộc, đảng viên

Qua kết quả điều tra cho thấy, có tới 90% số lượng công chức Nội vụ từ cấp huyện tới Trung ương là đảng viên và 9% số lượng công chức Nội vụ là người dân tộc thiểu số. Tỷ lệ này cao nhất ở các Phòng Nội vụ cấp huyện (10%); Bộ Nội vụ là 2%.

1.2.4.  Cơ cấu độ tuổi

Về tổng thể, cơ cấu độ tuổi của nhóm công chức Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và Phòng Nội vụ qua thống kê có tỷ lệ từ trên 30 tuổi trở lên khá cao (chiếm 93%, trong đó: từ 30-40 chiếm 49%; từ 40-50 chiếm 32%, trên 50 chiếm 12%), đây là giai đoạn mà người công chức đã quen với công việc và tích lũy được nhiều kinh nghiệm công tác, thành thạo công việc. Tại thời điểm hiện tại, đây là nguồn nhân lực quan trọng của ngành.

1.2.5. Cơ cấu ngạch

Qua thống kê số liệu cho thấy tỷ lệ chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp ở Bộ Nội vụ rất cao (54,9%), thấp dần đến các Sở Nội vụ (29,9%), và đến các phòng Nội vụ (10,2%). So sánh tương quan về cơ cấu ngạch công chức Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ với công chức toàn ngành Nội vụ[2] thì nhóm công chức Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ giữ ngạch chuyên viên trở lên cao hơn rất nhiều (khoảng 95%, so với  ngành là 71%).

1.3. Trình độ

1.3.1. Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của đội ngũ công chức nội vụ khá cao, 96,4% có trình độ từ đại học trở lên. Trình độ trên đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) trung bình trên cả nước là 23,4% (Bộ Nội vụ 49%); Trình độ Đại học là 73%; còn lại là Cao đẳng, Trung cấp (3%).

1.3.2. Trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước

Công chức Nội vụ được quan tâm, tạo điều kiện bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị và quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là nhóm công chức Bộ Nội vụ. Số lượng công chức có trình độ lý luận chính trị cao cấp và trung cấp chiếm tỷ lệ cao (70%). Tỷ lệ công chức có trình độ quản lý nhà nước ngạch Chuyên viên trở lên chiếm tỷ lệ rất cao 96%, trong đó riêng tỷ lệ công chức có trình độ Chuyên viên chính và Chuyên viên cao cấp là 40%.

1.3.3. Trình độ tin học, ngoại ngữ

Qua thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ, vẫn còn một tỷ lệ khá cao chưa đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ theo quy định của Thông tư 03/2014/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và Thông tư 01/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Cụ thể, đối với trình độ Tin học, vẫn có 29% chưa đáp ứng chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT và đối với trình độ ngoại ngữ có 49% chưa đáp ứng khung ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

1.4. Đánh giá chung

1.4.1. Ưu điểm

Qua số liệu điều tra thống kê cho thấy, nhìn chung chất lượng đội ngũ công chức nội vụ trên các mặt đã được nâng lên, có sự chuyển biến tích cực so với những giai đoạn trước. Có thể thấy trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã có sự quan tâm, làm tốt các công tác như: xây dựng quy hoạch nhân lực của cơ quan, tổ chức mình; tổ chức tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí công tác, thực hiện chính sách đãi ngộ... đối với công chức nội vụ. Điều đó giúp cho đội ngũ công chức Nội vụ đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng.

1.4.2. Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế

Những năm gần đây, cùng với sự ổn định về cơ cấu tổ chức và sự phát triển mạnh mẽ của ngành Nội vụ, đội ngũ công chức trong ngành cũng nhanh chóng được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, đội ngũ công chức ngành Nội vụ vẫn còn hạn chế, chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số lĩnh vực còn thiếu số lượng công chức (các lĩnh vực của ngành Nội vụ hầu hết là đang thiếu hụt nhân lực, chỉ trừ lĩnh vực văn thư, lưu trữ có sự dư thừa lao động). Cơ cấu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt là tỷ lệ mất cân đối giữa các chuyên ngành với nhau, tỷ lệ được đào tạo chuyên ngành chuyên sâu cũng như tỷ lệ thường xuyên được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp. Ngoài lĩnh vực văn thư, lưu trữ thì các lĩnh vực còn lại là tổ chức nhà nước, tôn giáo, thi đua, khen thưởng đa số công chức có trình độ đào tạo chưa phù hợp.

Mặc dù lĩnh vực chủ yếu của ngành Nội vụ là tổ chức nhà nước nhưng hiện nay trong các trường đại học, học viện ở nước ta chưa có chuyên ngành đào tạo chuyên sâu bậc đại học về lĩnh vực này nên đội ngũ công chức làm công tác trong lĩnh vực tổ chức nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn với các chuyên ngành đào tạo khác nhau. Trong đó có nhiều công chức được đào tạo về các chuyên ngành được xem là “gần” với công tác tổ chức nhà nước như luật học, hành chính học, khoa học quản lý, quản trị nhân lực…nhưng cũng không ít người tốt nghiệp các chuyên ngành “xa” như kinh tế học, văn học, xã hội học… Do được đào tạo theo các chuyên ngành khác nhau nên năng lực một số bộ phận nhân lực ngành Nội vụ có phần hạn chế, thiếu cơ bản và hệ thống. Nguyên nhân của những khó khăn trong thực thi công vụ xếp theo thứ tự ưu tiên là chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo chưa thật phù hợp; thiếu kinh nghiệm thực tiễn; không được bồi dưỡng kịp thời, thường xuyên; phân công công việc chưa phù hợp.[3]

Đội ngũ công chức Nội vụ hiện nay còn thiếu nhiều cán bộ lãnh đạo, chuyên gia hoạch định chính sách, công chức quản lý, điều hành. Do đặc điểm, tính chất đặc thù yêu cầu đối với đội ngũ công chức, viên chức của ngành Nội vụ không chỉ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có kinh nghiệm thực tiễn để xử lý, giải quyết những công việc phức tạp. Trong khi đó, khả năng điều chỉnh nội bộ cũng rất khó khăn, vì nhân lực tại các cơ quan, tổ chức còn thiếu công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Số lượng công chức Nội vụ ở các Phòng Nội vụ cấp huyện thường xuyên không ổn định do có sự luân chuyển, điều động công tác giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Bên cạnh đó, nhiều công chức có trình độ đào tạo chuyên ngành chưa thật sự phù hợp với VTVL. Thêm vào đó, một số công chức mặc dù được đào tạo chuyên ngành phù hợp với một số vị trí việc làm ngành Nội vụ nhưng lại được giao các nhiệm vụ/vị trí chưa thực sự phù hợp với chuyên ngành được đào tạo, không phù hợp với sở trường đã đào tạo.

Số lượng công chức lãnh đạo, quản lý ở khối cấp tỉnh và cấp huyện là quá nhiều khi so sánh tương quan với số lượng công chức. Tỷ lệ trung bình công chức có chức vụ lãnh đạo, quản lý tại Sở Nội vụ các tỉnh là 42,9%, trong đó nhiều Sở Nội vụ có số lượng công chức lãnh đạo, quản lý vượt trên 50% số lượng công chức của cả Sở. Trung bình mỗi Phòng Nội vụ huyện trong cả nước bố trí 2,5 công chức lãnh đạo, quản lý, tỷ lệ trung bình là 35% công chức lãnh đạo, quản lý/phòng Nội vụ (trung bình 1 phòng Nội vụ cấp huyện có 6,9 người).

Độ tuổi công chức ngành Nội vụ còn mất cân đối, chưa bảo đảm đến tính kế thừa. Tỷ lệ công chức ngành Nội vụ ở độ tuổi dưới 30 tuổi rất thấp, trung bình chỉ 7%, nhiều địa phương có tỷ lệ công chức dưới 30 tuổi bằng 0%. Công chức có độ tuổi trên 50 tuổi có tỷ lệ trung bình là 12%.

Sự mất cân đối trong cơ cấu ngạch: Tỷ lệ công chức ở ngạch từ Chuyên viên (và tương đương) trở lên rất rất cao, khoảng 95%, trong đó tỷ lệ chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp là 20,5%. [Tỷ lệ này cao nhất là ở Bộ Nội vụ, tương ứng là 97,7% (từ CV trở lên) và 54,9% (từ CVC trở lên)]. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, chỉ có khoảng hơn 5% công chức giữ ngạch cán sự và nhân viên là quá ít ỏi. Tại Bộ Nội vụ, tỷ lệ cán sự và nhân viên chỉ có 2,3%. Tại nhiều Sở Nội vụ, tỷ lệ này bằng 0%.

Bên cạnh những tỷ lệ nhất định công chức nội vụ chưa đạt chuẩn về tin học và ngoại ngữ, qua báo cáo của các đơn vị cũng cho rằng tuy có chứng chỉ tiếng anh, chứng chỉ tin học nhưng nhiều khi chưa phản ánh đúng trình độ và khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học của công chức. Trong thực tiễn, nhiều công chức vẫn còn lúng túng trong việc sử dụng ngoại ngữ, tin học phục vụ công tác chuyên môn, đặc biệt là ngoại ngữ.

2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình đòi hỏi đội ngũ công chức ngành Nội vụ nói chung, công chức nội vụ nói riêng phải được phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt là phải nâng cao chất lượng để xây dựng được một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, cơ cấu hợp lý, có trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị cao, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao. Để đạt được mục tiêu trên, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp như sau:

- Thứ nhất, việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ công chức ngành Nội vụ cần phải theo các tiêu chí mới, đáp ứng với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, gần nhất là quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ giai đoạn 2021-2030. Như vậy việc cần làm là tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ. Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc phát triển nhân lực ngành Nội vụ.

- Thứ hai, hoàn thiện việc xác định vị trí việc làm và khung năng lực trong ngành Nội vụ.  Để làm tốt điều này, cần thực hiện rà soát, phân tích toàn diện hiện trạng để xác định được điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi của Ngành trên cơ sở các yếu tố: số lượng; cơ cấu (tuổi, giới tính, chức vụ, ngành nghề...); trình độ chuyên môn; kinh nghiệm làm việc...  từ đó có những sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới tiêu chuẩn chức danh công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức ngành Nội vụ làm cơ sở cho việc lập kế hoạch phân bổ, điều chỉnh, tuyển dụng, bổ sung nguồn nhân lực, bố trí, sử dụng nhân lực ngành Nội vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc của đội ngũ công chức, viên chức gắn với từng vị trí việc làm.

- Thứ ba, thực hiện giải pháp đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ tại chỗ đối với cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ quan, đơn vị. Việc đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức thường xuyên, liên tục tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của các ngành, địa phương (trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của bộ, ngành, địa phương). Căn cứ vào thực trạng trình độ của công chức ngành Nội vụ, xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng những nội dung cho phù hợp. Xác lập chế độ bắt buộc đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lãnh đạo, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng; đồng thời có cơ chế khuyến khích đào tạo trong nước và đào tạo ở ngoài nước và tự đào tạo từ công việc hằng ngày. Phương châm đào tạo, bồi dưỡng là đáp ứng yêu cầu của người học, sát thực tế, cụ thể và đảm bảo hiệu quả. Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí công việc, với phương châm bổ sung, nâng cao kiến thức quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho công chức phù hợp với vị trí công việc do từng cá nhân đảm nhiệm.

Ngoài việc đào tào, bồi dưỡng trực tiếp thông qua các chương trình học tập, cần đặc biệt coi trọng đào tạo, bồi dưỡng gián tiếp bằng cách đưa các công chức, viên chức từ Trung ương xuống địa phương làm việc để trải nghiệm thực tiễn trong khoảng từ 02 đến 03 năm. Ngược lại, thu hút nhân sự là công chức, viên chức đã qua kinh nghiệm, có triển vọng và năng lực ở các địa phương về Trung ương để họ tham gia đóng góp, thực hiện tốt vai trò tham mưu, hoạch định chính sách.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng đầu vào trên cơ sở tiêu chuẩn cụ thể đối với từng vị trí việc làm, chức vụ, chức danh, theo quy trình chặt chẽ, trách nhiệm rõ ràng, công khai, minh bạch. Việc tuyển dụng, điều động, tiếp nhận phải bảo đảm nguyên tắc nâng cao chất lượng công tác trên cơ sở đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ. Song song với đó, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, sử dụng các chuyên gia, người có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm; thu hút, trọng dụng nhân tài vào công tác tại ngành Nội vụ.

Thứ năm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các quy định, quy chế về chế độ trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, phong cách lối sống, quy tắc ứng xử; xây dựng hệ thống chuẩn mực ứng xử các mối quan hệ với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và với Nhân dân. Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính; công chức, viên chức, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải thay đổi thái độ làm việc để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực.

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ, thực hiện tốt Chương trình cải cách hành chính, Đề án cải cách công vụ, công chức của ngành Nội vụ. Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan để triển khai thực hiện tốt quy hoạch phát triển nhân lực của ngành Nội vụ. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra; người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải kiểm tra việc thực hiện của công chức, viên chức ở cơ quan, đơn vị mình. Chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh; thanh tra và xử lý nghiêm tình trạng dư thừa số lượng công chức  lãnh đạo, quản lý cấp phó trong các cơ quan, đơn vị.

 Thứ bảy, nâng cao hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, xử lý vi phạm; nhận thức đúng về vị trí, vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong xây dựng cơ quan, đơn vị; tạo sự thống nhất về tư tưởng trong việc tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong cơ quan, đơn vị. Nâng cao nhận thức, đề cao vai trò, trách nhiệm của mỗi công chức, viên chức đối với công tác thi đua, khen thưởng. Tích cực, chủ động phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng gương điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua. Tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Thứ tám, xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc hiện đại phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Nội vụ. Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu về công chức, viên chức; tổ chức triển khai việc quản lý, sử dụng các cơ sở dữ liệu về công chức, viên chức và kết nối trong phạm vi toàn quốc. Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và trong hoạt động tác nghiệp của các cơ quan, đơn vị thuộc ngành Nội vụ./.

Phan Thị Vinh, Nghiên cứu viên, Viện Khoa học tổ chức nhà nước

-------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ (2021), Báo cáo tổng hợp, báo cáo thống kê Dự án điều tra cấp Bộ “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành Nội vụ”.

2. Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Nội vụ” do TS. Vũ Thanh Xuân làm chủ nhiệm

3. Báo cáo số 7046/BC-BNV tổng kết 10 năm thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ giai đoạn 2011-2020 của Bộ Nội vụ.

 

[1] Bảng 5, Trang 5, Báo cáo số 7046/BC-BNV tổng kết 10 năm thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Nội vụ giai đoạn 2011-2020 của Bộ Nội vụ

[2] Ngành Nội vụ theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhóm đối tượng công chức làm công tác tổ chức cán bộ các Bộ, ngành, địa phương

[3]Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Nội vụ” do TS. Vũ Thanh Xuân làm chủ nhiệm